Bagan huyền bí

Đăng ngày Thứ tư, 17/02/2016 13:36
4 giờ sáng, những hành khách trên xe còn say giấc nồng, chiếc xe buýt sáu tiếng khởi hành từ Yangon đỗ xịch bên vệ đường. Tiếng hô vang “Bagan! Bagan!” của bác lơ xe làm mọi người choàng tỉnh giấc. Cho đến khi hỏi lại bác tài xế, tôi mới tin rằng mình đã đến Bagan ngập tràn những ngôi đền huyền bí của Myanmar, bởi ngoài trời tối đen như mực và khung cảnh xung quanh vắng lặng như tờ.


Bagan với vô số chóp đền
Đón bình minh trên đền Buledi

Từ thế kỷ IX đến XIII, Bagan là kinh đô của Vương quốc Pagan – vương quốc đầu tiên thống nhất được các lãnh chúa và hợp thành đất nước Myanmar ngày nay. Thời điểm hoàng kim nhất của Bagan là từ thế kỷ thứ XI đến thế kỷ XIII dưới thời vua Anawrahta với hơn 14.000 ngôi đền chùa, tu viện Phật giáo được xây dựng trên vùng đất Bagan rộng 104 km2 bên dòng sông Ayeyarwaddy. Tuy nhiên, hàng ngàn ngôi đền, chùa bằng đất nung đã bị phá hủy bởi cuộc xâm lăng của người Mông Cổ ở thế kỷ thứ XIII và bị phá hủy bởi trận động đất kinh hoàng vào năm 1975. Đến nay, Bagan còn khoảng 2.200 chùa chiền, đền tháp tương đối nguyên vẹn, được bảo tồn trong Khu khảo cổ học Bagan có diện tích 25 km2.

Nhiệt độ trong ngày ở Bagan có sự chênh lệch đáng kinh ngạc. Từ ban đêm đến gần sáng, trời lạnh 15 độ C, vậy mà đến trưa, trời đã nóng như đổ lửa tới 42 độ C, rồi dần chuyển lạnh khi hoàng hôn buông xuống. Tuy đã tìm hiểu trước về thời tiết ở Myanmar và khoác sẵn chiếc áo ấm cùng chiếc khăn choàng, vậy mà khi bước xuống xe tôi vẫn thấy lạnh run và thở ra khói.

Khung cảnh tĩnh mịch thế, song khi du khách vừa xuống xe, hàng loạt những chiếc xe ngựa đặc trưng vùng Bagan từ đâu đã kéo đến và đon đả mời chào. Chiếc xe ngựa lọc cọc đưa tôi đi qua những con đường mòn nhỏ, bụi tung mù mịt hòa quyện cùng làn sương khói dày đặc. Từng cơn gió lạnh thổi ùa vào trong xe bất chợt khiến tôi rùng mình. Xe ngựa dừng trước ngôi đền Buledi, mà theo lời anh đánh xe, đây là nơi lý tưởng để ngắm bình minh khi đặt chân đến thành cổ Bagan.


Đền Shwesandaw hay còn gọi là ngôi đền mặt trời lặn là nơi lý tưởng để ngắm hoàng hôn
Với mong muốn thưởng lãm cảnh đẹp huyền diệu của bình minh Bagan, tôi háo hức tiến vào bên trong khuôn viên ngôi đền, bắt đầu trèo lên những nấc thang đá dốc, hẹp và cao chót vót. Sau nhiều lần dừng chân, tôi đã lên đến vị trí lý tưởng ở gần chóp đền. Trời vẫn còn tối, nhưng du khách đã tập trung đông nghịt quanh đỉnh tháp và hướng về phía mặt trời sắp mọc. Khó khăn lắm tôi mới tìm được một chỗ tương đối tốt bên cạnh các “tay săn ảnh” chuyên nghiệp. Thỉnh thoảng, mọi người nhìn đồng hồ và hồi hộp đón chờ thời khắc bình minh Bagan như thể đang đếm ngược thời khắc giao thừa vậy.

Đúng 6 giờ sáng, mặt trời dần nhô lên từ phía chân trời và chiếu rọi những tia sáng đầu tiên. Mặt trời lên tạo những tông màu sắc khác nhau: đỏ hồng, da cam và vàng hổ phách, đồng thời dần xua tan lớp sương mù che phủ. Hàng nghìn chóp đền lớn nhỏ đặc trưng vùng Bagan hiện ra thấp thoáng phía xa. Cả một vùng đất đỏ rực dưới ánh nắng ban mai. Một vẻ đẹp lộng lẫy và huyền bí!

Tất cả mọi người quanh tôi đều tập trung bấm máy lách tách. Bên cạnh tôi, một chị du khách Châu Á đã dùng giấy bút vẽ lại bình minh Bagan mờ ảo phủ trên từng ngọn tháp, ngôi đền với những tán cây xanh biếc, những con đường nhỏ ngang dọc. Riêng tôi – người lữ khách đến từ Việt Nam – đã cố gắng ghi lại khoảnh khắc mê hoặc này bằng con tim, bằng cảm nhận và bằng những bức hình sống động. Quả thực, tôi đã có một sự khởi đầu ngày mới thật tuyệt ở Bagan.


Một trong 4 pho tượng Phật đứng khổng lồ ở Ananda Phaya
Ngắm đền cổ trong “lò lửa”

Sau 45 phút, vùng đất Bagan rực nắng và những con đường đất đỏ bắt đầu tỏa hơi nóng, tôi tiếp tục hành trình khám phá đền chùa của mình ở Manuha Phaya. Theo quan niệm của người dân Myanmar, chùa cũng như nhà bởi nó mang đến cho họ sự thanh thản trong tâm hồn. Dù cuộc sống có khó khăn, nhưng việc cúng dường cho đền, chùa là niềm hạnh phúc vô biên của họ. Vì lẽ đó, trên bệ xi măng ngay gian phòng lớn của chùa Manuha có đặt cái chuông vàng to bằng hai vòng tay người ôm. Cạnh tháp chuông là một chiếc thang bắc từ dưới đất lên miệng chuông, và người dân địa phương xếp thành một hàng dài, từng người leo lên thang để thả tiền vào bên trong lòng chuông. Lòng sùng tín đó khiến tôi đôi khi quên mất việc ngắm nhìn ngôi chùa đẹp đẽ với những bức tượng Phật khổng lồ trong tư thế ngồi xếp bằng và được dát vàng lấp lánh.

Khi đồng hồ điểm 12 giờ trưa, cái nóng 42 độ C đã khiến cho vùng đất Bagan trở thành một lò lửa thiêu đốt, đến độ bình nước đông đá chỉ sau 15 phút đã có thể tan chảy thành nước. Những bóng cây Nim bạt ngàn nơi miền đất lửa không đủ sức che đi ánh nắng mặt trời chói chang. Những ngôi đền, chùa cổ làm bằng gạch nung, sân đền trải dài vài trăm mét hấp thụ nhiệt nóng bừng như đang chực chờ đốt cháy những đôi chân trần của các tín đồ Phật giáo và du khách. Song khó khăn ấy cũng không thể khiến lữ khách chùn bước bởi những trầm tích đền đài nhuốm màu thời gian quá mê hoặc lòng người.

Chiếc xe ngựa leng keng lướt trên những con đường đổ nắng lại đưa tôi đến Dhammayangyi – ngôi đền lớn nhất và có những bức tường gạch đầy đặn nhất ở Bagan. Ngôi đền gây ấn tượng mạnh bởi được xây dựng theo khối hình kim tự tháp, và còn bởi câu chuyện chết chóc của nó. Thế kỷ thứ XII, vua Narathu tàn nhẫn đã ra lệnh giết hết các nô lệ không ghép được những viên gạch xây đền chặt khít đến mức không thể lách một chiếc kim vào giữa. Bởi thế, Dhammayangyi còn có tên gọi khác là “ngôi đền vận rủi” để gợi nhớ quá khứ đau buồn. Những mảnh tường vỡ sau trận động đất năm 1975 cho thấy, người xưa không xây các hàng gạch đều nhau mà cứ vài hàng ngang thì đến một hàng gạch thẳng hay nghiêng để chia lực tác động của thiên nhiên. Vữa xây được làm từ xương trâu nghiền trộn với bột gỗ cây Arabica. Bởi vậy, những nét kiến trúc độc đáo và những bức tượng Phật đẹp bên trong đền Dhammayangyi đã không thể bị phá hủy và còn lưu giữ được cho đến ngày hôm nay.


Cuộc sống thường ngày của người dân Bagan
Ra khỏi ngôi đền vận rủi, tôi đến với Ananda Phaya hay còn gọi là Đền Đá, di tích số 1 mà bất cứ du khách nào đến Bagan cũng phải ghé thăm. Nằm cuối con đường nơi có cung điện của các vị vua, đền đá Ananda nổi tiếng với lối kiến trúc hình thập tự và những pho tượng Phật đứng khổng lồ. Đền được xây dựng bởi vua Kyansittha vào năm 1105, bị động đất phá hủy một phần vào năm 1975, sau đó được Phật tử đóng góp trùng tu lại, trở thành một trong những ngôi đền còn nguyên vẹn nhất và được tôn kính nhất vùng Bagan. Tháp chính của đền Ananda cao 54m, có bốn mặt nhìn ra bốn hướng, mỗi mặt là mỗi gian thờ với những tượng Phật cao gần 10m. Mặt tường phía ngoài đền có các bức tranh ghép bằng gạch men bóng pha màu, minh họa những cảnh trong cuốn Bản sinh kinh. Người dân Bagan tin rằng sự khác nhau giữa những nét mặt Phật sẽ khiến cho con người ý thức được việc làm của mình khi đến nơi này và bước ra thế giới.

Chuyến hành trình đến với thành cổ Bagan của tôi kết thúc hoàn hảo khi ngắm hoàng hôn tại ngôi đền Shwesandaw hay còn gọi là “ngôi đền mặt trời lặn”. Ngôi đền có 5 tầng tháp và một tháp stupa hình chuông úp trên đỉnh. Theo truyền thuyết, ngôi đền này được xây dựng bởi vua Anawrahta vào năm 1057 để lưu giữ một trong 8 sợi tóc của Phật Thích ca mang về từ Ấn Độ.


Xe ngựa là phương tiện đi lại chủ yếu ở Bagan
5 giờ chiều, từng dòng du khách đổ về Shwesandaw để ngắm hoàng hôn. Trong thời gian 30 phút, cảnh sắc cả vùng Bagan dần biến đổi khi mặt trời đỏ rực chầm chậm hạ thấp khỏi bầu trời, nhuộm tím hàng nghìn ngọn tháp phía xa rồi nhường lại không trung cho bóng tối. Có thể nói, hoàng hôn Bagan đẹp không thua kém bình minh Bagan, rất huyền diệu và mở ảo.

Trời chạng vạng tối là lúc tôi rời Shwesandaw để ra bến xe Bagan. Khép lại vùng đất Bagan kỳ diệu để mở ra những cuộc hành trình mới đến những địa danh khác trong đất nước Myanmar sùng tín và xinh đẹp.

Bài và ảnh: Phan Ngọc Hạnh