Villa de Leyva – Lang thang thành phố cổ

Đăng ngày Thứ sáu, 15/04/2016 16:29

Những người bạn Colombia nói rằng, một khi đã đặt chân lên đất nước châu Mỹ này, cần phải tìm cách đến Villa de Leyva, thành phố cổ cách thủ đô Bogota 188 km. Thật may mắn, tôi có dịp đến Colombia và được Henry Mariño – một hướng dẫn viên có nhiều kinh nghiệm – lái ô tô chở đến Villa de Leyva trong chuyến đi đầy thú vị.

dl4

Nhà thờ Muối Zipaquirá

Rời Bogota đông đúc và ngột ngạt, xe chúng tôi lọt thỏm giữa thiên nhiên xanh thắm ngút ngàn. Hai bên đường thảng hoặc có những ngôi nhà rực rỡ sắc màu: toàn bộ tường của chúng được sơn màu đỏ, vàng, hoặc xanh. Tôi nhận ra rằng Henry có một tình yêu rộng lớn dành cho thiên nhiên và cuộc sống. Hạ cửa kính xuống, ông cười rất tươi và kể cho tôi biết bao câu chuyện về xứ sở của mình. Rồi ông dừng xe, chúng tôi đã tới một địa danh độc đáo: Nhà thờ Muối Zipaquirá.

Tôi ồ lên kinh ngạc. Tôi đang ở một thế giới khác, một thế giới sâu 200 mét trong lòng đất, rộng thênh thang, làm toàn bằng muối. Nơi đây chính là kiến trúc độc đáo bậc nhất của Colombia. Là một mỏ muối từ thưở xa xưa, nơi đây đã biến thành một nhà thờ linh thiêng dưới bàn tay tài hoa của những người thợ mỏ và lòng tin của họ vào Đức Chúa Trời.

Tôi trở về là một đứa trẻ, chạy tung tăng giữa những bức tường muối được ánh đèn soi vào, sáng lấp lánh. Quệt ngón tay vào tường, tôi liếm thử, trên lưỡi tôi là vị mặn đặc trưng của muối. Không chỉ là địa điểm du lịch nổi tiếng, Nhà thờ Muối còn là một địa điểm tín ngưỡng linh thiêng. Có rất nhiều người đến đây, quỳ gối khẩn cầu trước thánh giá, tượng chúa Giê-su và Đức Mẹ Đồng trinh. Henry cho tôi biết, mỗi Chủ nhật có khoảng 3.000 người dân đến đây dự thánh lễ. Nhà thờ có ba khu riêng biệt, với những bức tượng muối khổng lồ tái hiện cuộc đời, cái chết và sự sống trường tồn của chúa Giê-su.

Trở về mặt đất, chúng tôi lên xe, tiếp tục chuyến hành trình đến thị trấn cổ xinh đẹp Zipaquirá, để tôi được bước thong dong trên những con đường xinh xắn lát đá sỏi. Những ngôi nhà cổ nhỏ xinh nằm tựa vào nhau, nơi đó những em bé che miệng cười khúc khích, nhìn tôi với những cặp mắt tròn xoe, trong vắt. Quang cảnh thanh bình nơi đây níu chân tôi ở lại.

dl1

Villa de Leyva thơ mộng

Trên đường đến Villa de Leyva, xe chúng tôi được băng qua khung cảnh tuyệt đẹp và hoang dã của vùng Boyacá. Ở đó tôi được Henry kể về trận chiến Boyacá khốc liệt, và có một trải nghiệm ẩm thực thú vị trên ngọn đồi Ventaquemada phủ đầy sương với bánh Arepa Boyacense, súp Cuchuco tuyệt ngon và nước mía nóng Agua De Panela Con Queso thơm lừng.

Chúng tôi đến Villa de Leyva khi mặt trời là một trái bưởi chín đỏ đậu trên những rặng núi cao bao quanh thị xã. Henry chở tôi về một khách sạn nép mình bên cạnh một lối gập ghềnh đá sỏi. Phòng tôi rất rộng, có tầm nhìn hướng về cánh đồng trải dài bát ngát và những rặng núi cao nhấp nhô. Tôi còn có hẳn một ban công riêng, nơi đó những cây quít đang nghiêng xuống với hàng trăm quả chín, mời gọi tôi với hương thơm ngọt ngào.

Tiếng nhạc và tiếng hát đang vọng đến giục tôi rời khách sạn, hướng về trung tâm thị xã. Thật may, tôi đến đây đúng vào ngày lễ hội Virgen del Carmen Festival. Ở nhà thờ lớn, tượng Đức Mẹ Đồng Trinh đã được mặc xiêm y lộng lẫy, cổ choàng những vòng hoa rực rỡ. Kiệu rước của Người cũng được phủ đầy hoa. Tôi quỳ gối nguyện cầu rồi ra ngoài, nhập vào dòng người mỗi lúc mỗi đông. Không gian xung quanh tôi lúc đó ngập tràn ánh hoàng hôn rực rỡ.

dl

Khi trời tối hẳn, đám rước sẽ bắt đầu nên chúng tôi tranh thủ ghé qua quảng trường thành phố, nơi đang nhộn nhịp những tiếng nói cười. Trẻ em, người lớn vây quanh những gian hàng, những quầy trò chơi. Những chú lạc đà cao lớn nằm đó, sẵn sàng cho tôi cưỡi. Đi qua một nơi có ánh lửa bập bùng và mùi thịt nướng béo ngậy, tôi kéo Henry vào. Những tảng thịt nóng rẫy, giòn tan được đưa từ trên lửa xuống, cắt lát và đặt vào đĩa chúng tôi. Những củ sắn luộc nóng hổi khiến tôi reo vui – một lần nữa, tôi lại được tìm về món ăn dân dã mà từ nhỏ tôi hằng yêu thích.

Chúng tôi nhấm nháp bữa tối đặc biệt ấy cùng những cốc bia sủi bọt. Vừa ăn xong, pháo hoa đã nở tràn gần chỗ chúng tôi ngồi: những người thanh niên đang đi qua con đường trước mặt, thanh pháo hoa trên tay họ tung những đóa hoa ánh sáng lên trời. Đoàn rước sắp đi qua. Henry và tôi vội vã trả tiền cho bữa ăn, rồi chạy ra ngoài, đứng bên đường chào đón kiệu Đức Mẹ Đồng Trinh đang dẫn đầu đoàn rước, thân hình Người ngập trong một vầng ánh sáng huyền diệu. Theo sau kiệu rước là những chiếc xe được trang hoàng lộng lẫy, cùng đoàn người xúng xính trong những bộ quần áo truyền thống, vừa đi vừa hát, vừa nhảy múa. Tôi hòa vào dòng người, lòng ngập tràn một niềm vui khó tả.

dl2

Nhà cổ và những cung đường xinh đẹp

Mặt trời vừa dậy, buông những tia nắng vàng rực lên những mái nhà ngói đỏ và những bức tường đang trĩu xuống cùng thời gian. Chúng tôi đến thăm một ngôi nhà cổ có tên gọi là El Molino de Mesopotamia. Ngôi nhà này được xây từ năm 1572 và tất cả những viên ngói lợp chưa từng hư hỏng. Ngôi nhà được giữ nguyên hiện trạng như cũ với khu vườn đầy hoa và tiếng chim, phòng ốc bằng gỗ và gạch đỏ, ban công đầy hoa. Từng là nơi dùng nước để xay xát, nơi đây vẫn còn những kênh nước róc rách bao quanh, thổi vào tôi những tiếng nhạc vui tai. Có cả một hồ bơi rộng lớn.

Chúng tôi thả bộ quanh phố. Những con đường quanh co dẫn tôi đến những ngôi nhà cổ đẹp, đẹp đến nỗi bụng kêu gào vì đói mà tôi vẫn chưa muốn đi ăn. Rồi cuối cùng mùi thơm toả ra từ một quán cà phê cũng làm tôi đổi ý. Tôi nằng nặc đòi ăn đồ Colombia và được thưởng thức món Caldo con Costilla, món ăn đặc trưng của vùng Andean: thịt bò hầm với hành tỏi, khoai tây, trên đó có rắc rau mùi băm nhỏ. Henry nói với tôi rằng món ăn này được người Colombia tin rằng có sức mạnh làm người chết sống dậy. Vì nó quá ngon, tôi phải gật đầu nhất trí.

dl3

Ăn xong, trong sự tiếc nuối, tôi lên xe. Điểm đầu tiên chúng tôi hướng đến là Pozos Azules, những hồ nước xanh. Như những hạt ngọc khổng lồ từ trên trời rơi xuống, những chiếc hồ trong vắt đang nằm trước mặt tôi, trên một cao nguyên khô như sa mạc, bao quanh là những rặng núi nhấp nhô. Nước ở đây có nhiều lưu huỳnh nên mới xanh đến thế. Mà có tận đến 5 chiếc hồ – xanh thẳm như trời xanh – để chúng tôi thoả sức khám phá, và ở đây, tôi đã gặp gỡ nói chuyện cùng với một số khách du lịch phương Tây – những người sang Colombia du lịch hàng tháng trời và rất yêu quý đất nước này.

Về Bogota trên một cung đường khác, Henry đưa tôi qua biết bao thị xã thanh bình, xinh đẹp. Nào là Sáchica, Sutamarchan, Tinjacá, Ráquira, and Chiquinquirá. Trong số đó, Ráquira để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Mỗi ngôi nhà ở đây đã được sơn vẽ, trở thành những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Cả thị xã là một bức tranh đầy màu sắc. Giống như Bát Tràng, nhưng rực rỡ hơn, Ráquira tràn ngập với biết bao sản phẩm gốm. Gốm được làm thành những con chim có màu sắc rực rỡ, gốm được làm thành chuông gió. Nổi tiếng về nghề gốm, nên nơi này được đặt tên là Ráquira, nghĩa là thành phố của những chiếc bình gốm.

Dừng lại ở nhà máy sản xuất sữa Colfrance, tôi được thưởng thức hương vị đậm đà của pho mát xứ Colombia. Rồi xe bon bon chở tôi về lại Bogota. Chuyến bay của tôi sẽ cất cánh trong vài giờ nữa. Henry đưa tôi ra sân bay, rồi nhiệt tình giúp tôi đem hành lý vào tận chỗ check-in. Siết chặt tay ông, tôi nói lời tạm biệt, cảm thấy vô cùng biết ơn một người bạn mới – người đã giúp tôi có được những trải nghiệm đáng nhớ ở Colombia.

Nguyễn Phan Quế Mai